Mon, 11 / 2019 12:54 pm | tailieuhay

Đất nước của nhân dân là tư tưởng không mới nhưng trong cảm nhận và biểu đạt của Nguyễn Khoa Điềm

Bài làm

“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho”, văn học luôn yêu cầu nghệ sĩ kiếm tìm những góc nhìn mới. Vậy nên ta có dịp gặp gỡ: đất nước của nhân dân là tư tưởng không mới nhưng trong cảm nhận và biểu đạt của Nguyễn Khoa Điềm, tư tưởng đó vẫn có nhiều phát hiện mới mẻ trong chương “ Đất Nước” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng”.

Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân mang tính truyền thống từng chảy trong văn học dân gian, trung đại, hiện đại. Đó là sức mạnh nhân dân vệ quốc trong “ Thánh Gióng”, “ Sự tích Hồ Gươm”, sử kí thời trung đại dưới lời nói của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, trong “ Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. Tới dòng văn học hiện đại, hơn một lần, Phan Bội Châu đã khẳng định tư tưởng thiêng liêng đó:

  • “ Dân là dân nước, nước là nước dân”
  • “ Sông xứ Bắc, bể xứ Bắc
  • Nếu không dân cũng là không có gì”

được thể hiện bằng bút pháp ước lệ tượng trưng xa xôi của văn chương bác học. Đến cây bút Nguyễn Khoa Điềm, nó trở nên gần gũi, toàn diện và sâu sắc hơn.

Cảm xúc nồng nàn, suy tư sâu lắng khi nhà thơ nhận ra nhân dân lấy máu xương của mình tạo nên hình sông thế núi của đất nước:

  • “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
  • Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
  • Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
  • Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương
  • Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
  • Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
  • Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”
Xem thêm:  Nghị luận xã hội về thói hư tật xấu

Hình ảnh con người xuất hiện là hình ảnh trung tâm tạo tác không gian thiên nhiên dài rộng. Những người vợ góp bằng năm chờ tháng đợi, sự thủy chung, là những vọng phu hóa đá giữa đời. Cặp vợ chồng góp bằng tình yêu nghĩa vợ tình chồng nên hòn Trống Mái- Bắc Trung Bộ. Người học trò góp bằng tháng năm miệt mài đèn sách, truyền thống hiếu học nên núi Bút non Nghiên- Nam Trung Bộ. Con voi, con cóc, con gà, gót ngựa cũng biến thành xứ sở quê hương. Sự đóng góp của nhân dân ở mọi người, mọi nơi, mọi cách trong khả năng và hoàn cảnh của mình để lại đất nước muôn hình, vạn vẻ. Khi đổ bóng xuống thơ ca gắn với cảm hứng ngợi ca non kì thủy tú của thiên tạo nhưng Nguyễn Khoa Điềm gắn với cảm xúc, thức tỉnh vai trò của nhân dân trong việc tạo tác dáng hình đất nước, nên mọi chiều kích đều mang dáng hình cha ông.

Nhà thơ cảm nhận vị trí to lớn của nhân dân trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc:

  • “Vào bốn ngàn năm Đất Nước
  • Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
  • Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”

Tác giả nói với “em” về bốn nghìn năm lịch sử lớp lớp, người người con gái, con trai ra đi, có giặc đàn bà cũng đánh, nhiều người không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ làm ra Đất Nước muôn đời. Câu thơ “ em ơi em” làm câu thơ mềm mại, giọng tha thiết tâm tình giúp nhà thơ nói những điều lớn lao mà không ồn ào, khô khan. Trang sử hào hùng được gây dựng bởi những người anh hùng trong lịch sử cả hữu danh và vô danh. Anh hùng hữu danh thì hữu hạn, có sử sách ghi danh, còn anh hùng vô danh thì vô hạn, ghi danh không xuể:

  • “Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta”
  • “ Có biết bao người con gái, con trai”
  • “ Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi”
Xem thêm:  Nghị luận về hiện tượng yêu sớm của giới trẻ hiện nay

Phải chăng nhân dân là ta trong quá khứ, ta là họ ở hiện tại và tương lai? Nhân dân lớn lao, cao rộng vừa gần lại vừa xa, vừa là biển người vừa là mỗi người trong đó có “anh” và “em”. Vậy cớ gì “anh, em” đứng lề cuộc đấu tranh diễn ra khắp cả nước? Thông điệp nhẹ nhàng thấm dần làm lay tỉnh thế hệ trẻ về sứ mạng với tổ quốc.

Nhà thơ còn khám phá nên vai trò của người dân trong trang sử không chỉ trên mặt trận vệ quốc mà họ còn tham gia vào công cuộc kiến quốc huy hoàng:

  • “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
  • Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
  • Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
  • Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
  • Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái
  • …Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân”

Điệp từ “ họ” cùng biện pháp liệt kê, nhịp thơ nhanh, giọng sôi nổi, đầy nhiệt hứng. Nhân dân gắn với hình ảnh quen thuộc “ hạt lúa, lửa, giọng điệu, tên làng xã, đắp đập”, họ là chủ thể duy trì nền văn hóa, sự sống cả dân tộc qua ngàn đời. Mà văn học chống Mỹ khi viết những anh hùng vô danh, mới chỉ đề cao anh hùng chiến đấu vệ quốc mà thôi. Nhà thơ đặt cái nhìn đa diện về nhân dân- con người bình thường, tạo nên sức mạnh phi thường.

Xem thêm:  Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu

Tác giả còn phát hiện tư tưởng đất nước của nhân dân thấm nhuần trong chiều sâu văn hóa tinh thần dân tộc:

  • “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
  • Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”
  • Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
  • Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
  • Đi trả thù mà không sợ dài lâu”

Hình ảnh sáng tạo từ chất liệu dân gian gợi nhắc nét đẹp đắm say trong tình yêu “ yêu em từ thuở trong nôi”, đến chân lý quý trọng lối sống nghĩa tình “ Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Khắc sâu hình ảnh một dân tộc kiên gan bền chí trong chống quân thù “trả thù mà không sợ dài lâu”. Để đất nước ngàn năm là đất nước của ca dao, thần thoại, mang theo tiếng lòng, điệu tâm hồn trong sáng, lương thiện, nồng hậu của nhân dân.

Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân được nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nhìn nhận một cách chân thực, sâu xa dưới mọi góc nhìn từ chiều rộng, chiều dài tới chiều sâu, mang lại sự gần gũi và tính thuyết phục nơi độc giả. Nhà thơ mang đến cho ta cách nhìn trọn vẹn hơn về vai trò của nhân dân, góp cách cảm mới về “ những việc mà ai cũng biết cả rồi”. Chương “ Đất Nước” trích trong trường ca “ Mặt đường khát vọng” khép lại nhưng âm vang còn thức tỉnh bạn đọc mọi thời đại về chân lý thiêng liêng, bất diệt đó.

Bài viết cùng chuyên mục