Sat, 11 / 2019 2:19 pm | tailieuhay

Phân tích lòng yêu nước trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Bài làm

Tố Hữu được coi là cánh chim đầu đàn của thơ ca Cách mạng, kháng chiến. Mỗi tác phẩm của ông là mỗi tấm lòng ông trải ra với cuộc đời, đất nước và dân tộc. Đặc biệt, với “Việt Bắc” ta thấy rất rõ ở đó một lòng yêu nước thiết tha và cháy bỏng.

Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc là một trong những mạch nguồn cảm hứng chảy dọc đối với văn học nghệ thuật mọi thời đại. Tình yêu nước là tình cảm đối với đất nước, qua mỗi thời kì lại được biểu hiện bằng những tình cảm khác nhau. Thuở khai thiên lập địa ban đầu, yêu nước là yêu những cánh đồng, những thắng cảnh của quê hương; đến thời phong kiến, yêu nước gắn với “trung quân ái quốc”. Yêu nước trong thời buổi tao loạn là nỗi xót thương cho “con đen dân đỏ” phải chịu kiếp lầm than dưới ách ngoại xâm, “bạo chúa”. Đến những năm đầu thế kỉ XX, nó biểu hiện qua hình ảnh con hổ trong vườn bách thú mà nhớ về rừng xanh (“Nhớ rừng” – Thế Lữ), là nỗi buồn man mác khắp vũ trụ trong các nhà thơ mới hay nỗi đau xót của các nhà hiện thực chủ nghĩa trong từng con chữ. Nhưng khi Cách mạng đến, đời sống chuyển sang một trang mới, yêu nước là niềm tự hào dân tộc: về mỗi nơi, mỗi con người, mỗi giây phút đang sống, là ý chí “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” của cả nước. Cảm hứng yêu nước giai đoạn 1945 -1975 là sự kết hợp của sử thi hào hùng và cảm hứng lãng mạn.

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp quay trở lại nước ta đã kết thúc thắng lợi. Hòa bình được lặp lại, nửa đất nước được giải phóng. Tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Lịch sử dân tộc bước sang một trang mới. Ở thời khắc này, người ta có nhu cầu nhìn lại chặng đường vừa qua, đồng thời hướng về con đường tương lai để bước tiếp. Bài thơ “Việt Bắc” ra đời để đáp ứng nhu cầu ấy của xã hội, là tiếng lòng của đồng bào mọi người. “Việt Bắc” là bản trường ca đầy ân tình – tình quê hương, tình đất nước, nghĩa tình giữa con người.

Tố Hữu là đứa con của Đất nước, của Cách mạng; mỗi vần thơ của ông đều mang giai điệu của đất nước, đều gắn với kháng chiến, cách mạng:

Lòng yêu nước với Tố Hữu, trước hết là tình yêu đối với thiên nhiên Việt Bắc – một “chiến sĩ” chiến đấu ngoan kiên:

  • “Nhớ khi giặc đến giặc lùng
  • Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
  • Núi giăng thành luỹ sắt dày
  • Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

Giờ đây, không chỉ con người mà thiên nhiên cũng tham gia vào cuộc kháng chiến, một trong những dũng tướng, là một trong những cộng sự đắc lực cho bộ đội. Núi rừng, nếu ở những câu thơ trước là “những mây cùng mù” âm u, hoang vắng, là một trong những thử thách để con người thể hiện mình thì ở đây lại trở thành “lũy sắt dày”. Những dãy núi trùng điệp trải dài, kiên cố như một thành lũy bất khả xâm phạm che chở bộ đội, dân quân, du kích của ta, hơn nữa còn “vây quân thù”. Đó chính là một trong những yếu tố quan trong làm nên chiến thắng vang dội của quân dân Việt Nam. Dưới con mắt sử thi của Tố Hữu, núi rừng vô tri bỗng trở nên kiên trung, tình nghĩa. Những vách thành tạo dựng từ những tư thế hiên hang, kiêu hùng là điểm tựa cho chúng ta mà cũng khiến kẻ thù phải bất lực.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12

Thiên nhiên Việt Bắc cũng là món quà tuyệt vời mà tạo hóa, Tổ quốc ban tặng chúng ta. Bức tranh mùa đông được vẽ ra bởi hai câu thơ:

  • “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
  • Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Hình ảnh: “hoa chuối, nắng ánh” tươi rói sức sống. Con người trong thơ Tố Hữu là con người trong tư thế hiên ngang, vóc tầm lớn lao của người làm chủ, làm chủ cuộc đời mình và làm chủ núi rừng. Tiếp theo, bức tranh mùa xuân được mở ra từ hai câu thơ:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Nếu trong cổ thi, xuân là hình ảnh của mai thanh cao, đào thanh nhã thì xuân thì đến Tố Hữu đã chối bỏ những ước lệ cổ xưa ấy để trở về với những hình ảnh tươi tắn, bình dị như từ đời mà bước vào trang thơ. “Hoa mơ” – hình ảnh giản dị của núi rừng Việt Bắc đã ám ảnh, đi về trong tâm trí của Tố Hữu. Hình ảnh con người hiện lên trong công việc: “đan nón chuốt từng sợi giang”. Động tư “chuốt” gợi đến bàn tay người lao động đang nhẹ nhàng và trân trọng, tỉ mỉ và cần cù, khéo léo. Dường như bao nhiêu chờ đợi, mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón. Đó phải chăng chính là chất thơ của con người miền núi mà sau này Y Phương tự hào gọi ba tiếng: “người đồng mình”. Rồi hè đến trong âm thanh rộn ràng của tiếng ve:

  • “Ve kêu rừng phách đổ vàng
  • Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Bức tranh Việt Bắc trở nên sống động hơn bao giờ hết. Tiếng ve là hình ảnh hồn nhiên, gần gũi của núi rừng. Tác giả không dùng là “nhuộm vàng, chuyển vàng,…” mà là “đổ vàng” – cuộc chuyển màu nhất loạt, bất ngờ, mạnh mẽ. Đó mới chính là cuộc chuyển mình, là sức sống nọi sinh tràn trề của cỏ cây chỉ có trong thơ ca cách mạng. Hình ảnh con người hiện lên không phải là hai chị em họ Vương kiều diễm, không phải người con gái cá tính trong thơ Hồ Xuân Hương, … – gắn với những ước lệ tượng trưng mà là “em” gắn liền với cuộc sống lao động, trong cái đẹp bình dị của cuộc sống. “Em gái” – tiếng gọi nghe thật thân thương, gần gũi.Thu sang:

  • “Rừng thu trăng rọi hòa bình
  • Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Xem thêm:  Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân- Văn lớp 12

Luồng sáng của trăng nơi thượng ngàn “rọi hòa bình” – ánh sáng của tự do, của hòa bình rọi sáng niềm vui lên khắp núi rừng, bản làng Việt Bắc. Đại từ phiếm chỉ “ai” – đại từ phiếm chỉ thể hiện tiếng lòng bâng khuâng. Đó là hình ảnh người trên “đèo cao nắng ánh”? Là cô em gái “hái măng một mình”? Hay là sự phân thân, hóa thân của chủ thể trữ tình mượn thơ mà thể hiện tiếng lòng thủy chung với nhân dân, với kháng chiến, cách mạng.

Thiên nhiên trong thơ Tố Hữu thật đẹp, nhưng là vẻ đẹp của thời đại mới, vẻ đẹp của con người mới, của sức sống mới.

Tiếp theo, một điều có thể dễ nhìn thấy, đó là tình yêu nước trong thơ Tố Hữu mang tính giai cấp rõ rệt. Trong quan niệm của nhà thơ cách mạng ấy, “dân là dân nước, nước là nước dân”. Đất nước vĩ đại luôn gắn với những người dân bình dị mà anh hùng. Vì thế, yêu nước cũng chính là yêu nhân dân. Ông tự hào với những vẻ đẹp ân tình, ân nghĩa của con người:

  • “Mình về mình có nhớ ta
  • Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
  • Mình về mình có nhớ không
  • Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”

Ta lại bắt gặp lối đối đáp “mình- ta” quen thuộc trong những câu hát giao duyên của lứa đôi, giữa bến – thuyền, mận – đào. Điệp cấu trúc: “Mình về, mình có nhớ….” là câu hỏi hay là sự gợi nhắc đầy ý tứ, ý tình. Lối đối đáp mình – ta với âm điệu ngọt ngào, thiết tha làm cho những câu thơ bỗng trở nên mềm mại, như cũng vấn vương nỗi lưu luyến, nhớ nhung. Tình quân – dân, vấn đề chính trị khô khan, từ bao giờ lại được trữ tình hóa, trở nên da diết và nồng nàn như tình yêu đôi lứa, đó chính là nhờ ngòi bút của nhà thơ Tố Hữu. “Mười lăm năm” không chỉ là khoảng thời gian địa lí, nó kí ức, là một phần thanh xuân của biết bao con người, của cả dân tộc. Một chữ “ấy” thôi, không cụ thể nhắc đến thời gian nào nhưng lại mở ra muôn vàn ý nghĩa. Mười năm năm của thời gian: từ những ngày thành lập ở Cao Bằng, những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc đến chiến thắng vang dội của Hồng Thái, Tân Trào,… Mười năm năm ân tình, ân nghĩa của đồng đội, quân – dân của những ngày tháng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, “miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”. Người ở lại còn gợi nhắc về những ân tình, thủy chung – đạo lí dân tộc: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Những thành ngữ, chất liệu dân gian, qua ngòi bút tài hoa Tố Hữu, vừa mang hơi thở thời đại, vừa giữ được tính dân tộc của nó: “cây- núi”, “sông- nguồn”. Bốn dòng thơ, cho 15 năm dằng dặc, vất vả mà hào hùng. Bốn dòng thơ cho những nghĩa tình không bao giờ nói hết. Bốn dòng thơ cho những da diết, luyến lưu không lỡ rời. Bốn dòng thơ cho cả lẽ sống cần có, bây giờ và mãi về sau: ân tình, thủy chung, uống nước nhớ nguồn….

Xem thêm:  Phân tích phần cuối đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm

Đặc biệt tình yêu nước là niềm hạnh phúc khi được sống trong không khí hào hùng của dân tộc:

  • “Những đường Việt Bắc của ta
  • Đêm đêm rầm rập như lá đất rung
  • Quân đi điệp điệp trùng trùng
  • Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
  • Dân công đỏ đuốc từng đoàn
  • Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay.
  • Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
  • Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

Một đoàn quân hùng hậu, có sức mạnh vô song đnag ngày ngày tiến lên phía trước. Một loạt từ láy “rầm rập, điệp điệp, trùng trùng, thăm thẳm” làm cho giọng thơ thêm hào hùng, sức mạnh như tăng lên. Đó không phải là hình ảnh bất chợt mà là “đêm đêm”, ngày ngày. Hình ảnh “đèn pha bật sáng như ngày mai lên” hay chính là hình ảnh của dân tộc Việt Nam bước ra khỏi màn đêm mà tìm lại ánh sáng cho chính mình.

Tình yêu nước , cũng gắn với niềm tin vào con người, tương lai như thế. Để rồi vỡ òa thành niềm vui, niềm tự hào chiến thắng:

  • “Tin vui chiến thắng trăm miền
  • Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
  • Vui từ Đồng Tháp, An Khê
  • Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Bốn câu thơ, câu nào cũng có sự xuất hiện của từ “vui”. Điệp từ “vui” được lặp lại tạo nhịp thơ nhanh, dồn dập càng làm cho niềm vui chiến thắng, sự hân hoan được nảy nở, lan tỏa từ lòng người đến người, từ câu thơ mà tràn qua tới lòng người đọc. Một loạt các địa danh từ khắp miền núi tới đồng bằng, khắp mọi nơi được nhắc tới trong thủ pháp liệt kê khiến ta có cảm giác niềm vui đã ngự trị, hạnh phúc đã đến với được tất cả mọi người, mọi nơi rồi. Từ những gian khổ, khó khăn năm nào “miếng cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng” đến chiến thắng trăm miền hôm nay vẫn luôn một lòng có nhau. Đó chính là sức mạnh của những trái tim và tấm lòng người Việt. Thơ Tố Hữu là thế đó: lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc, của thời đại.

Với Tố Hữu, yêu nước chính là tình yêu thiên nhiên, là tình cảm dành cho con người và những nếp sống dân tộc, là niềm tin vào tương lai, vào cuộc sống. Từ gian khổ mà đi đến niềm vui, từ chiến đấu mới có chiến thắng hôm nay. Mạch thơ vận động từ bóng tối ra ánh sáng, từ khổ đau đến niềm vui, đến tương lai. Đây cũng là đặc điểm thơ Tố Hữu, cũng là nền thơ kháng chiến Việt Nam: luôn vận động theo cảm hứng lãng mạn: hướng tới tương lai, ánh sáng và niềm vui. Qua đó là niềm tin vào tươi lai và cũng làm tròn chức năng văn học: phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến.

Chiến tranh đã qua đi, những ranh giới lại được lập lên hoặc san bằng nhưng bài thơ của Tố Hữu vẫn còn đó. Bởi nó không chỉ phục vụ cho thời điểm đó mà còn là bài ca về lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

Bài viết cùng chuyên mục